Thuế, phí và lệ phí là các thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong thị trường. Nhưng thực tế vẫn còn không ít người sử dụng các sai thuật ngữ thuế, phí và lệ phí nhất là những người lao động. Họ chỉ quan tâm đến việc họ phải nộp cho nhà nước những khoản nào và nộp bao nhiêu mà ít để ý đến việc mục đích của việc thu các loại thuế, phí và lệ phí. Để nhằm nâng cao hiểu biết và nhận thức sự khác nhau giữa các khoản thu này. Bài viết xin đưa ra quan điểm pháp lý nhằm so sánh, phân biệt các loại thuế, phí, và lệ phí.
Điểm giống nhau: Thuế và lệ phí, phí đều là nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đều mang tính pháp lý.
Điểm khác nhau:
Tiêu chí phân biệt | Thuế | Thuế Phí, lệ phí |
Khái niêm | Là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế bằng sức mạnh của nhà nước mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định. Các khoản thu này không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế. |
Lệ phí là khoản thu vừa mang tính chất phục vụ cho đối tượng nộp lệ phí về việc thực hiện một số thủ tục hành chính vừa mang tính chất động viên sự đóng góp cho ngân sách Nhà nước. Phí là khoản thu mang tính chất bù đắp chi phí thường xuyên hoặc bất thường như phí về xây dựng, bảo dưỡng, duy tu của Nhà nước đối với những hoạt động phục vụ người nộp phí. |
Cơ sở pháp lý | Được điều chỉnh bởi văn bản pháp luật có hiệu lực pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành là Quốc hội hoặc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội theo trình tự ban hành chặt chẽ (Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết) | Được điều chỉnh bởi những văn bản dưới luật (Nghị định, quyết định), do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành. |
Vai trò trong hệ thống Ngân sách nhà nước |
Là khoản thu chủ yếu, quan trọng, chiếm trên 90% các khoản thu cho Ngân sách nhà nước.=>Nhằm điều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và định hướng phát triển kinh tế và đảm bảo sự bình đẳng giữa những chủ thể kinh doanh và công bằng xã hội.
Như vậy, thuế có tác động lớn đến toàn bộ qúa trình phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia, đồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọng cấu thành chính sách tài chính quốc gia.
|
Là khoản thu phụ, không đáng kể, chỉ đủ chi dùng cho các hoạt động phát sinh từ phí. nguồn thu này không phải dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà trước hết dùng để bù đắp các chi phí hoạt động của các cơ quan cung cấp cho xã hội một số dịch vụ công cộng như: dịch vụ công chứng, dịch vụ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản, dịch vụ hải quan… |
Tính đối giá | Không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp |
Mang tính đối giá rõ ràng và hoàn trả trực tiếp
|
Tính bắt buộc | Mang tính bắt buộc đối với cả người nộp thuế và cơ quan thu thuế | Chỉ bắt buộc khi chủ thể nộp lệ phí, phí thừa hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nước cung cấp |
Tên gọi và mục đích | Mỗi luật thuế đều có mục đích riêng, tên gọi các sắc thuế thường phản ánh đối tượng tính thuế | Mục đích của từng loại phí, lệ phí rất rõ ràng, tên gọi của loại phí, lệ phí phản ánh đầy đủ mục đích sử dụng của loại phí, lệ phí đó |
Phạm vi áp dụng |
– Không có giới hạn, không có sự khác biệt giữa các đối tượng, các vùng lãnh thổ
– Áp dụng hầu hết đối với các cá nhân, tổ chức
|
– Mang tính địa phương, địa bàn rõ ràng – Chỉ những cá nhân tổ chức có yêu cầu “Nhà nước” thực hiện một dịch vụ nào đó |